Blog Quảng Nam

Bản tin

DÁNG TIÊN

Ngày: 

17/10/2022

Lượt xem: 

782

 

 

DÁNG TIÊN
(Tác giả: Huỳnh Trương Phát)


Đầu nguồn ông lữ đi câu
Cá không mắc - mắc nỗi đau nhân tình
Đôi gò mắc giữa cái nhìn
Đáy sông như đáy mắt mình chung chiêng
Phải lòng một cái dấu huyền 
Mà ngây đến nỗi chiều nghiêng một mình

 

Về đây lắm kẻ đuối tình
Cũng vì giọt nước sông xinh trước nhà
Giọt của mẹ giọt của cha
Em là một giọt ngọc ngà sông Tiên
Về đây nợ nợ duyên duyên
Cũng vì dại uống giọt tiên giang kiều

 

Đôi khi yêu quá mà liều
Nghe đồn cái xứ tiên nhiều nôn nao
Nghe đồn sông chảy lên cao
Bỏ quên gành đá xanh xao xưa rày
Bỏ quên cái sợi lông mày
Bên triền đá tắm mọc dày lá si

 

Sông chừ xuân thuở đương thì
Tương tư cứ rắc xanh rì mặt sông
Nghe đồn em đã lấy chồng
Mà răng chẳng thấy dòng sông nói gì
Ngõ rêu – rêu để mà chi
Vườn xanh – xanh để làm gì ở mô

 

Lòn bon tiêu chuối dâu ngô
Xõa màu xanh xuống cơ hồ là em
Trung du đợi một khúc đêm
Mộng về mị cả bóng thềm đá leo
Lộc Yên mộng cả cột kèo
Trên khu đĩ  gió cứ trèo qua nhau

 

Về đây chắt cả trước sau
Đựng trong ký ức một màu sông quê
Nụ cười chắt hết sơn khê
Ủ ba bữa tết để khề khà xuân
Lò Thung em chắt để dành
Sông Tiên ai chắt mà thành dáng em

                                                      H.T.P

 

VẺ ĐẸP XỨ TIÊN TRONG THƠ LỤC BÁT HUỲNH TRƯƠNG PHÁT

Lời bình


" Dáng Tiên" là tựa đề của bài thơ được in trong tập thơ "Dùng dằng chi rứa" của nhà báo, nhà thơ, nhà nhiếp ảnh Huỳnh Trương Phát. Tác giả là một người con nguyên quán ở Hòa Hải, Quận Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng, nhưng anh đã sống và làm việc ở Quảng Nam nhiều năm; tôi và anh đã từng quen biết khi anh còn làm Trưởng Đài Truyền thanh Huyện miền núi Trà My vào thập kỷ 80 -90 của thế kỷ 20; đến năm 1995 tôi về Quế Sơn, còn anh thì về Núi Thành; chúng tôi xa nhau từ đó cho tới ngày 02/10/2022 nhân dịp Hội Văn hóa nghệ thuật Nguồn Việt Đà Nẵng tổ chức ra mắt tác phẩm mới tại làng cổ Nam Phong huyện Hòa Vang, hai chúng tôi tình cờ gặp lại, gặp nhau tay bắt mặt mừng huyên thuyên về chuyện gia đình, công tác, sau đó anh ra xe lấy tặng tôi một cuốn thơ có tựa đề: "Dùng dằng chi rứa"; và một cuốn văn viết theo thể ký có tựa đề "Gánh đời mà đi". Vì thời gian này rất bận bịu, tôi mới đọc lướt qua tác phẩm "Dùng dằng chi rứa" bắt gặp "Dáng Tiên" nhưng " nàng" đã thu hút tôi viết những lời bình cho " nàng".  


 Dáng Tiên là bài thơ tình được viết theo thể lục bát, gồm có: 6 khổ, 36 câu. Mới đọc tựa đề ta cứ tưởng đây là bài thơ tả về một người con gái đẹp vì "Dáng Tiên" là hình ảnh về một người con gái có vóc dáng tuyệt mỹ, ngọc ngà, mãnh khãnh, làn da trắng hồng, một cô gái có mái tóc dài bồng bềnh như mây, có khuôn mặt nhỏ nhắn, môi tươi đỏ hình trái tim, sóng mũi cao thẳng, đôi mắt lung linh đầy quyến rũ…! Nhưng đọc hết bài thơ chúng ta cảm nhận được bài thơ không đơn thuần chỉ tả vẻ đẹp của một người con gái, mà tác giả đã giới thiệu cho chúng ta một bức tranh hoàn hảo về vẻ đẹp của một dòng sông thơ mộng, một ngôi làng cổ, một nét văn hóa đặc trưng của một vùng quê ở huyện Tiên Phước tỉnh Quảng Nam, và ẩn chứa ký ức về một cuộc tình.


Hai câu đầu bài thơ đề cập đến hình ảnh của một anh chàng đi câu trên đầu nguồn sông Tiên: 


Đầu nguồn ông Lữ đi câu 
Cá không mắc - mắc nỗi đau một mình

 

Tác giả đã mượn hình ảnh ông Lữ trong ca dao Việt Nam để miêu tả về một chàng trung niên đang thư thái với cái thú tao nhã của mình và bắt gặp một cô gái đẹp như cô tiên đã hút hồn chàng, làm cho anh chàng không còn tâm trạng câu cá nữa mà chuyển hướng câu tình và từ đây anh chàng đã trồng cây si, ngay trên dòng sông này, có lẽ hình ảnh người con gái đang tắm trên dòng sông đã làm cho đôi mắt của chàng đắm đuối, chết mê chết mệt cái hình ảnh: 

 

 Đôi gò mắc giữa cái nhìn
 Đáy sông như đáy mắt mình chung chiêng
 Phải lòng một cái dấu huyền
 Mà ngây đến nỗi chiều nghiêng một mình.

 

Tiên Phước là một huyện miền núi trung du nằm ở phía tây của Tỉnh Quảng Nam, huyện có nhiều phong cảnh đẹp, nên người dân Quảng Nam thường gọi là " Xứ Tiên" bởi đây có dòng sông Tiên chảy ngược huyền bí nước trong xanh và mát lạnh; có địa danh Tiên Lãnh với núi chót vót 1.000 mét vút cao đỉnh Hòn Che, Cửa Rừng; thung lũng Tiên Cảnh chứa đầy truyền thuyết dị nhân khổng lồ đắp núi, khơi nguồn nước sông Đá Giăng - Lò Thung. 


Có lẽ là huyện miền núi -trung du, bán sơn địa, tương phản từ khí hậu đất đai đến con người, Tiên Phước là vùng đất " tiên cảnh phước lộc" như Việt Nam thu nhỏ. Có đồi núi và ruộng bậc thang Tây Bắc, làng quê Bắc bộ, sông núi Nam Trung bộ; trái cây Nam bộ. Cho nên con gái ở nơi đây rất đẹp, da dáng trắng hồng như tiên nữ; vì vậy các chàng trai đến vùng đất này đều trồng "cây si" tại mảnh đất này, và tác giả cũng không ngoại lệ; có lẽ vào một dịp trên tuyến đường Tam Kỳ - Trà My tác giả nhìn thấy cảnh đẹp nơi đây nên đã dừng lại và đã si tình cho đến bây chừ.

 

Về đây lắm kẻ đuối tình
Cũng vì giọt nước sông xinh trước nhà
Giọt là giọt của mẹ cha
Em là một giọt ngọc ngà sông Tiên
Về đây nợ nợ duyên duyên
Cũng vì dại uống giọt tiên giang kiều


Vùng đất Tiên Phước còn mệnh danh là " Thập ngũ Tiên sa"; truyền thuyết kể vùng này thuở hồng hoang đẹp hơn thượng giới, vào mùa xuân, các tiên nữ thường rủ nhau hạ giới ngao du. Tới nơi, các tiên nữ bị cảnh đẹp ở đây mê hoặc và những con người đáng yêu nên các tiên nữ tìm cách trốn Ngọc Hoàng ở lại, mỗi người một chỗ. Ngọc Hoàng nổi giận nhưng không nỡ xử phạt, đành chấp nhận cho các tiên nữ giáng trần. Có 15 "nàng tiên", mỗi nàng một chỗ đó là Tiên An, Tiên Cẩm, Tiên Cảnh, Tiên Châu, Tiên Hà, Tiên Hiệp, Tiên Lãnh, Tiên Lập, Tiên Lộc, Tiên Mỹ, Tiên Ngọc, Tiên Phong, Tiên Sơn, Tiên Thọ và thị trấn Tiên Kỳ. Tiên nào cũng xinh đẹp, tài giỏi, đảm đang nhưng vẫn giữ nét riêng nên các vùng đất cũng có những đặc thù khác biệt; say mê người đẹp, rung cảm với cảnh đẹp khổ thơ thư ba tác giả bộc bạch:

 

Đôi khi yêu mà quá liều
Nghe đồn cái xứ tiên nhiều nôn nao
Nghe đồn sông chảy lên cao
Bỏ quên gành đá xanh xao xưa rày
Bỏ quên cái sợi lông mày
Bỏ triền đá tắm mọc dày lá si

 

Sông Tiên chảy qua nhiều ghềnh thác đã tạo nên phong cảnh nơi đây hữu tình, thơ mộng, dòng xoáy lũ lụt qua nhiều năm đã đẽo gọt, bào mòn vách đá tạo nên những viên đá có hình dáng kỳ thú rất đẹp như những nàng tiên giáng trần; trước cảnh đẹp của dòng sông, ngôi làng cổ trong một lần về thăm " Xứ Tiên" tìm lại những hình bóng xưa nhưng em đã đi lấy chồng, "cây si" đã tự sự:


 
Sông chừ xuân thuở đương thì
Tương tư cứ rắc xanh rì mặt sông
Nghe đồn em đã lấy chồng
Mà răng chẳng thấy dòng sông nói gì
Ngõ rêu - rêu để mà chi
Vườn xanh - xanh để làm gì ở mô


Khổ thơ thứ 5 tác giả đã dẫn dắt ta đến với những đặc sản Tiên Phước, phong cảnh mê hồn của làng cổ Lộc Yên. Với thổ nhưỡng Tiên Phước là đất phù sa được bồi đắp bởi các dòng sông: Sông Tranh, Sông Tiên…; và đất Feralit chủ yếu là feralit đỏ vàng, phát triển trên đá granit, đá gờnai, đá fi-lít, tập trung ở vùng đồi núi phù hợp với các loại cây như tiêu, quế, chè, thị đề, bòn bon, chuối, dâu, ngô….Lòn bon có tên gọi là Nam Trân ( trái quí phương Nam),trái lòn bon gợi nhớ về truyền tích chúa Nguyễn Ánh lưu dấu bấm tay trong ruột trái quý hiếm, trên chặng đường Chúa chạy trốn quân Tây Sơn. Hồ tiêu Tiên Phước vỏ mỏng, mùi vị thơm ngon. Lộc Yên là một ngôi làng cổ Lộc Yên ở Tiên Cảnh, ngôi làng tọa lạc trong một thung lũng hình tròn khá đẹp, bao bọc xung quanh bởi các dãy núi Rừng Cấm, Đá Bàn, Hố Chò, Rừng Gấm… Dưới các chân núi có các sông suối Đá Giăng, Vực Dài, Đồng Rộc và các con mương “dẫn thủy nhập điền” bao bọc lấy ngôi làng. Làng được hình thành và phát triển vào thế kỷ 15- 16; nhà được làm bằng gỗ ba gian bốn mái , mái lợp ngói , ngõ được xếp bằng đá trầm tích trồng chè tàu rất đẹp; nhà xây tựa lưng vào núi, hướng ra cánh đồng thoáng mát.

 

Lòn bon tiêu chuối dâu ngô
Xõa màu xanh xuống cơ đồ là em
Trung du đợi một khúc đêm
Mộng về mị cả bóng thềm đá leo
Lộc Yên mộng cả cột kèo
Trên khu đĩ gió cứ trèo qua nhau.


Khổ thơ cuối là cả một miền ký ức của tác giả về dòng sông Tiên, về Đá Giăng với quần thể đá suối, sông nước hữu tình và thơ mộng. Dòng nước mát, xanh như ngọc,hang đá mát rượi của Lò Thung, Tiên Cảnh - Tiên Phước; ký ức về nụ cười sơn khê, về văn hóa đặc sắc của một vùng quê Quảng Nam; nhất là văn hóa đón tết; chơi xuân…Tác giả đã dùng điệp từ "Chắt" rất Quảng Nam nhưng cũng rất nhân hóa, đây là một động từ diễn đạt một hành động lấy đi bớt một ít như: chắt nước, chắt rượu; tác giả thì chắt ký ức, chắt nụ cười, chắt sơn khê, chắt cả cảnh đẹp Lò Thung; chắt Sông Tiên…tại sao tác giả không dùng từ "rót" mà lại dùng từ "chắt" theo tôi có lẽ vì tác giả là người rất Quảng Nam, cái văn hóa Quảng đã thấm sâu trong máu thịt của anh; dân miền Trung nói chung và dân Quảng Nam nói riêng sống rất tiết kiệm, của cải làm ra rất chắt chiu để dành, phòng khi hạn hán, lũ lụt mất mùa có cái ăn cái mặt, khác với sự phóng thoáng của dân Nam bộ; đó cũng là do đặc điểm địa chất, khí hậu đã hình thành nên nếp sống văn hóa của mỗi vùng miền khác nhau. 

 

Về đây chắt cả trước sau
Đựng trong ký ức một màu sông quê
Nụ cười chắt hết sơn khê
Ủ ba bữa tết để khề khà xuân
Lò thung em chắt để dành
Sông Tiên ai chắt mà thành dáng em
.

 

Kết lại bài thơ một lần nữa tác giả đã nhắc lại vẻ đẹp của một nàng Tiên của chàng như một sự tiếc nuối vì chàng đã để nàng Tiên bay xa.

Tác giả bình thơ: Trần Thắng Đông

 

 

Tác giả Huỳnh Trương Phát (bên trái) và tác giả Trần Thắng Đông (bên phải)

 

*Cám ơn bộ đôi tác giả đã gởi bài về Blogquangnam

Bài Viết Liên Quan

Danh Mục

Loading...

Xem thêm

Tags